Thich Thanh Cuong

Mấy hôm nay, các trang mạng đồng loạt chia sẻ ảnh một vị trụ trì ở Hải Dương đang hớn hở tìm mua iPhone 6. Một số người thậm chí còn chịu khó lật tung Facebook của vị sư ấy để tìm những bức ông đang xài Vertu, đi du lịch hay tạo dáng cạnh một chiếc xe đắt tiền. Ai cũng lên tiếng chỉ trích ông “sư hổ mang” ấy và ca thán “đạo Phật đã bị xoá sổ khỏi đất Việt”. Đọc những bài viết ấy, bạn có thể phẫn nộ cho tiền cúng dường của bá tánh, hay phì cười vì những tấm ảnh ghép chữ châm biếm kiểu “Thí chủ đã có iPhone 6 chưa?” Nhưng sau đó, tôi muốn bạn dành một vài phút để ngẫm lại “văn hoá chùa chiền” của Việt Nam.

Nếu bạn là một Phật tử Việt Nam thuần thành, có lẽ một tháng bạn sẽ đến chùa ít nhất 1-2 lần, vào ngày rằm và đầu tháng. Khi đến chùa bạn làm gì? Bạn mua hoa, thắp nhang, lạy Phật, cầu cho sức khoẻ, tiền tài, may mắn. Một số người thậm chí còn nhét tiền vào tay các pho tượng Phật và Bồ tát, như một cuộc đổi chác cho lời cầu nguyện của mình. Bạn tụng niệm đến mức thuộc vanh vách một số bản kinh quen thuộc, như Bát nhã Tâm kinh, “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Rồi bạn cúng dường một khoản tiền, không nhiều thì ít, để các thầy lo việc nhang đèn, và đôi khi tổ chức các buổi từ thiện giúp đỡ người khốn khó. Bạn làm tất cả những điều ấy với lòng thành tâm không cần bàn cãi.

Nhưng có khi nào bạn tự hỏi, vì sao bạn phải làm những điều ấy? Phải chăng là vì các Thầy bảo thế?

Tôi có cảm tưởng phần đông người theo đạo Phật tại Việt Nam đều quá lệ thuộc vào các thầy. Sư thầy bảo gì, dạy gì thì nghe nấy. Thầy kêu lạy Phật đi con, ừ thì lạy Phật. Thầy kêu niệm Phật mỗi ngày để cầu vãng sinh, ừ thì cầu vãng sinh. Thầy kêu “hùn phước” để gieo ruộng công đức, ừ thì hùn phước. Người ta cứ răm rắp làm theo lời sư thầy như thế, với mong muốn sau khi chết được sinh về Tịnh độ. Rồi người ta so đo, mình hùn phước nhiều hơn nó, mình giữ nhiều giới hơn nó. Ít ai chịu cất công tìm hiểu xem đâu mới đúng là điều do chính đức Phật lịch sử nói ra. Ngẫm lại, chính sự lệ thuộc ấy đã góp phần tạo nên một tầng lớp tăng lữ trá hình như hiện nay.

Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế, Phật không hề dạy bá tánh phải đi chùa mỗi tháng 2 lần. Mà thời đó làm gì đã có chùa? Phật và tăng đoàn đi khắp nơi khất thực và giảng Pháp, chỉ ở một chỗ cố định vào mùa mưa mà thôi. Việc cúng dường thời đó cũng chỉ là cúng thức ăn để Phật và các vị khất sĩ có năng lượng sống mỗi ngày. Không có chuyện xây chùa to, đắp tượng cao, nhang đèn nhộn nhịp như ngày nay.

Giáo lý của Phật cũng không hề chú trọng quá vào việc cầu cho khi chết được tái sinh hỷ lạc, mà ngược lại, Phật muốn đem đến những đổi thay ngay lúc này, trong đời sống hiện tại. Phật hướng dẫn mọi người cách xa lìa tham ái, từ bỏ bạo động, thoát khỏi khổ đau… từ những hành động nhỏ nhặt nhất mỗi ngày. Từ những bài học ấy, người ta có thể đem lại lợi lạc gì cho bản thân, gia đình và những người xung quanh. Đạo Phật khi ấy giản đơn lắm, gần gũi lắm, chứ không hề được “tô hồng” với những hình tượng, lễ nghi rườm rà như ta thấy ở Việt Nam ngày nay.

Và điều tuyệt vời là những tinh tuý của đạo Phật vẫn còn đó, vẫn được những bộ kinh như Kinh A Hàm ghi lại rõ ràng (đây là bộ kinh được các đệ tử Phật tổng kết sau khi Phật qua đời).

Nhưng điều kinh khủng là ít ai chịu bỏ thời gian tìm hiểu những bài học thiết thực ấy. Thay vào đó, họ chọn nghe lời các sư thầy tuyên thuyết, mà không ít trong số những vị sư thầy ấy là những kẻ đội lốt không hơn không kém. Để rồi khi cái lốt ấy lộ ra thì chúng ta lại tri hô lên, “ôi đạo Phật ngày nay loạn rồi”. Hay tệ hơn, chúng ta sẽ bao biện rằng “tu tại tâm” và nhất quyết không bao giờ đi chùa, đọc kinh nữa!

Đăng Trình

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s